29/03/2016

MÔI TRƯỜNG Ô NHIỄM: CẢNH TỈNH VỚI DOANH NGHIỆP FDI

Written By Lý Công on 29/03/2016 | 22:48

[Thiên Nhân]

Trong thời gian tới, Việt Nam sẽ bắt đầu thực hiện các Hiệp định thương mại tự do,  điều này dự báo sẽ có thêm nhiều nguồn vốn đầu tư nước ngoài (FDI) vào Việt Nam. Nhưng thời gian qua, một số các doanh nghiệp FDI vẫn chưa tuân thủ nghiêm túc các yêu cầu về bảo vệ môi trường trong quá trình sản xuất gây ra những hậu quả nghiêm trọng về ô nhiễm môi trường.
 
Những con số giật mình

Tại hội thảo: “Giảm thiểu các tác động môi trường của đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam” được Viện Nghiên cứu và Quản lý Kinh tế Trung ương phối hợp với Dự án Hỗ trợ chính sách Thương mại và Đầu tư châu Âu tại Việt Nam (Mutrap) tổ chức ngày 30/3/2016 tại Hà Nội, các nhà nghiên cứu kinh tế, môi trường nhận định: “Có khoảng 67% doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) thuộc ngành sản xuất có giá trị gia tăng thấp. Đáng nói, ngày càng có nhiều doanh nghiệp FDI gây ô nhiễm mở rộng đầu tư vào Việt Nam”.
 


Ảnh: Vedan xả nước thải chưa qua xử lý giết chết sông Thị Vải

Cụ thể, qua các cuộc điều tra thực tế của Viện CIEM, từ năm 2011 - 2015, chúng ta nhận thấy ngày càng có nhiều doanh nghiệp FDI gây ô nhiễm mở rộng đầu tư vào Việt Nam. Các DN này có công nghệ thấp, tiêu thụ nhiều năng lượng, khả năng phát thải cao. Các ngành, lĩnh vực tập trung nhiều nhất là: dệt may, hóa chất, điện tử, giấy, gang - thép.... Trong khi đó, lĩnh vực cấp nước, xử lý nước thải tính từ năm 1988 tới đầu năm 2013 mới chỉ có 28 dự án trong tổng số gần 16.000 dự án FDI, bằng 0,2% và chiếm 0,36% tổng vốn đăng ký (710 triệu USD). Đáng nó, đến năm 2013, chỉ có 5% doanh nghiệp FDI đầu tư vào Việt Nam có công nghệ cao, 80% có công nghệ trung bình, còn lại 14% là sử dụng công nghệ thấp. Điều này hoàn toàn trái ngược kỳ vọng cũng như tuyên bố đưa các công nghệ, ứng dụng tiên tiến vào sản xuất tại Việt  Nam.

Theo báo cáo của Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2011: “Kết quả điều tra 150 DN FDI, có 45% doanh nghiệp chưa áp dụng quy trình sản xuất ít phát thải, 18% DN áp dụng các biện pháp giảm phát thải cũng thấp. Kết quả cũng cho thấy, nhiều doanh nghiệp (69%) cho rằng họ sẽ không thực hiện quy trình giảm phát thải nếu như đó không phải là yêu cầu bắt buộc, tương tự như thế 57,7% cho biết lý do là chi phí cao...”. Trên thực tế, nhiều khu công nghiệp đi vào hoạt động nhưng chưa triển khai xây dựng hệ thống xử lý nước thải cục bộ hoặc có nhưng không vận hành, hay vận hành không hiệu quả hoặc xuống cấp… Đặc biệt, tại Đồng bằng Sông Cửu Long có 75% khu và 85% cụm CN chưa có xử lý nước thải tập trung.

Những bước đi cần thiết

Theo nhận định của Viện CIEM, các qui định cụ thể về môi trường hầu hết được hoàn thiện trong những năm gần đây. Nói một cách khác là còn khá nhiều “lỗ hổng” trong thời gian trước đây về các mặt quản lý môi trường tạo điều kiện cho các doanh nghiệp FDI lợi dụng để trốn tránh pháp luật khi gây ô nhiễm môi trường. Ông Bùi Quách Tuyến, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và môi trường thẳng thắn nêu rõ bản chất của các doanh nghiệp FDI, đó là: “Rất nhiều dự án FDI đều giống nhau ở một điểm quan trọng đó là hướng đến việc khai thác tài nguyên giá rẻ của Việt Nam. Tài nguyên này có thể là đất, là nước, là môi trường... tất cả đều với chi phí quá thấp”. Để ngăn chặn, khắc phục doanh nghiệp FDI gây ô nhiễm môi trường chúng ta cần có các biện pháp cụ thể sau:

Một là, tiếp tục tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường nhằm phát huy tốt các phong trào cộng đồng bảo vệ môi trường. Đồng thời, rà soát và ban hành đồng bộ các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Bảo vệ môi trường, nâng cao hiệu lực thi hành các quy định về bảo vệ môi trường đối với các doanh nghiệp FDI.

Hai là, tăng cường đa dạng hoá các nguồn vốn đầu tư bảo vệ môi trường theo tinh thần của Nghị quyết 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị; có những hình phạt nghiêm khắc với những doanh nghiệp FDI gây những hậu quả nghiêm trọng đối với môi trường.

Ba là, nâng cao năng lực cho cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, trong đó phải tập trung nguồn lực, nhân lực cho các đơn vị cấp huyện (huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) và cấp xã (xã, phường, thị trấn);

Bốn là, triển khai và áp dụng có hiệu quả các đề tài nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực BVMT, đặc biệt là các công nghệ mới về xử lý chất thải, khắc phục suy thoái môi trường; khuyến khích các cơ sở sản xuất áp dụng các biện pháp sản xuất sạch hơn; cũng như tăng cường hợp tác trong nước và quốc tế về bảo vệ môi trường, tranh thủ các nguồn vốn hỗ trợ và tài trợ của các tổ chức quốc tế.

Đăng nhận xét

» Comment mang tính xây dựng và đóng góp.
» Không sử dụng các từ ngữ kích động, tuyên truyền, gây thù hằn, phân biệt vùng miền, tôn giáo, giới tính...gây tổn hại đến khối Đại đoàn kết dân tộc
» Không sử dụng các từ ngữ , hình ảnh xuyên tạc, bôi xấu Đất nước, chế độ, Quốc huy , Quốc kỳ, Quốc ca... của nhà nước CHXHCN Việt Nam.
» Không sử dụng các từ ngữ , hình ảnh xuyên tạc, bôi xấu Đảng, Nhà nước, Lãnh tụ, lãnh đạo.
» Không sử dụng các tên người dùng vi phạm các điều trên và tên người dùng mặc danh.
» Từ ngày 11/05/2013, blog chính thức xóa toàn bộ các comment nặc danh.
Thân ái !